Hiển thị các bài đăng có nhãn Doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Cứu doanh nghiệp: Cần thêm giải pháp dài hạn
7 phút trước-
TT
- Sau khi Chính phủ công bố gói giải pháp cứu doanh nghiệp , bà Phạm
Chi Lan, chuyên gia kinh tế, đề nghị cần có chính sách dài hạn để DN yên
tâm làm ăn vì tình hình năm 2013 và các năm tới sẽ còn nhiều khó khăn.
Bà Lan nói:
"Hội
thảo của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức ở Đà Nẵng trong tháng 4,
dưới sự chủ trì của Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, đã có
nhiều chuyên gia, trong đó có tôi, đề cập việc giảm thuế thu nhập doanh
nghiệp. Tôi cảm nhận được là hôm đó bà Ngân đã lắng nghe về đề xuất này"
Chuyên gia PHẠM CHI LAN
|
* Để tăng sức cạnh tranh của DN, theo bà, cần giảm thuế TNDN?
-
Đúng vậy. Vì thuế TNDN của ta vẫn ở mức cao với 25% so với các nước
trong khu vực ASEAN là 17%, do đó làm mất khả năng cạnh tranh của DN một
cách đáng kể. Ngay cả với các DN, để tính toán bài toán kinh doanh dài
hạn thì không thể dựa vào những chính sách hỗ trợ ngắn hạn như Chính phủ
vừa đưa ra. Hiện nay không có gì đảm bảo mọi thứ sẽ tiến triển thuận
lợi, hay nền kinh tế sẽ khôi phục được mang tính chất bền vững để họ có
thể làm ăn lâu dài. Chúng ta khuyến khích DN làm ăn dài hạn nhưng mọi
giải pháp của Chính phủ, ngay cả cứu trợ chỉ mang tính chất ngắn hạn
thôi thì làm sao DN tính đến bài toán làm ăn dài hạn hoặc trung hạn
được.
* Bà có thể giải thích rõ hơn về đề nghị cần có giải pháp dài hạn mạnh hơn để cứu DN?
-
Thật ra, khó khăn lần này của DN phần lớn do những vấn đề khó khăn nội
tại của nền kinh tế nhiều năm tích tụ suốt từ năm 2008 đến nay chứ không
phải vấn đề mới. Mặt khác, trong điều kiện kinh tế toàn cầu có rất
nhiều diễn biến phức tạp và tình hình trong nước cũng vậy. 29.000 tỉ
đồng mà Chính phủ đưa ra chỉ giúp DN giảm bớt khó khăn trong năm 2012,
còn đến năm 2013 thì sao khi mà những vấn đề chung của nền kinh tế vẫn
còn đó, vẫn đang rối bời với nhiều lo lắng? Cụ thể quá trình tái cấu
trúc nền kinh tế sẽ được tiến hành như thế nào, có đủ quyết liệt, có
mang lại hiệu quả lâu dài hay không, hay DN vẫn chật vật tiếp cận tín
dụng, lãi suất thì cao ngất ngưởng, lạm phát cũng vậy?... Như thế là còn
nhiều yếu tố khiến người kinh doanh và người dân chưa thật yên tâm,
trong khi những cứu trợ hiện nay chỉ mang tính chất cứu chữa trước mắt.
*
Khi các giải pháp được trình ra Quốc hội, một số chuyên gia cho rằng
Quốc hội nên đề nghị Chính phủ xem xét để có giải pháp hữu hiệu hơn.
Quan điểm của bà về ý kiến này?
-
Tôi cũng mong Quốc hội thấy rằng với tình hình thực tế thì giải pháp mà
Chính phủ đưa ra vẫn chưa thật sự hỗ trợ DN vượt ra khỏi khó khăn.
Trong 29.000 tỉ đồng thì ngân sách có thể bị giảm thu khoảng 9.000 tỉ
đồng. Nếu lo ngại hỗ trợ DN nhiều sẽ khiến thất thu ngân sách thì mức
9.000 tỉ đồng vẫn là ít so với mức năm ngoái thu vượt đến gần 100.000 tỉ
đồng. Mấy năm gần đây năm nào cũng thu vượt dự toán cả 100.000 tỉ đồng
mỗi năm. Vẫn còn dư địa để Quốc hội xem xét đề nghị Chính phủ đưa ra
giải pháp mạnh hơn để cứu DN. Thuế là quyết định ở Quốc hội, đề nghị
giảm thuế TNDN xuống mức 20% rất mong được Quốc hội đưa ra trong kỳ họp
lần này.
LÊ THANH thực hiện
Tags:
Doanh nghiệp
,
Tin nổi bật
Doanh nghiệp đã và đang phá sản như thế nào?
1 giờ trước- Báo Công Thương
Ban chỉ đạo Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp năm 2012 (tổng cục Thống kê) vừa tiến hành điều tra về thực trạng doanh nghiệp và tình hình khó khăn của khu vực doanh nghiệp trên phạm vi cả nước.
CôngThương -
Cuộc điều tra thu thập thông tin phản ánh về điều kiện sản xuất, những
khó khăn, trở ngại về các yếu tố liên quan tới sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm của khu vực doanh nghiệp.
Sau gần một tháng triển khai, tính đến 29.4.2012, cơ quan điều tra đã thu được 8.373 phiếu gồm 319 doanh nghiệp nhà nước, 7.343 doanh nghiệp ngoài nhà nước và 711 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Kết quả của 8.373 doanh nghiệp cho thấy, sau một năm và 3 tháng vừa qua, số doanh nghiệp thực tế còn hoạt động chiếm 91,6%; số doanh nghiệp phá sản, giải thể và doanh nghiệp ngừng sản xuất kinh doanh, đang hoàn thành thủ tục phá sản, giải thể chiếm 8,4%.
Trong ba loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp ngoài nhà nước phá sản, giải thể chiếm tỷ lệ cao nhất với 9,2%; tiếp đến là khu vực doanh nghiệp nhà nước với 2,7% và thấp nhất là khu vực doanh nghiệp có vốn FDI với 2,6%.
Tính theo địa phương, đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tỷ lệ doanh nghiệp phá sản, giải thể cao nhất cả nước với 13,6%; tiếp đến là khu vực Tây Nguyên với 9,9%; Đông Nam Bộ 8,8%; Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 8,2%; trung du và miền núi phía Bắc 7,2% và thấp nhất là vùng đồng bằng sông Hồng 6%.
Trong tổng số 706 doanh nghiệp (8,4%) phá sản, giải thể thuộc diện điều tra có đến 69,4% doanh nghiệp phản ánh nguyên nhân phá sản, giải thể là do sản xuất kinhh doanh thu lỗ; 28,4% doanh nghiệp thiếu vốn để sản xuất kinhh doanh; 15,1% doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm; 11,7% doanh nghiệp khó khăn về địa điểm sản xuất kinhh doanh; 4,4% doanh nghiệp phải đóng cửa để thành lập doanh nghiệp mới, chuyển đổi ngành nghề sản xuất và 4,7% doanh nghiệp đóng cửa để sáp nhập với doanh nghiệp khác.
Trong số các doanh nghiệp bị phá sản, giải thể có đến 89,7% doanh nghiệp phản ánh họ sẽ không tiếp tục thành lập doanh nghiệp mới; 10,3% doanh nghiệp dự kiến sẽ tiếp tục thành lập doanh nghiệp mới.
Trong số doanh nghiệp phá sản, giải thể sẽ thành lập mới thì có 35,5% trả lời sẽ thành lập mới ngay trong năm 2012; 25,8% sẽ thành lập mới trong năm 2013; 16,2% sẽ thành lập mới trong năm 2014 và 22,5% sẽ thành lập mới sau năm 2014.
Thông tin về cuộc điều tra, tổng cục Thống kê cho hay, cuộc điều tra được thực hiện ngẫu nhiên, phân bổ đều theo quy mô lao động, đại diện cho toàn quốc, cho các ngành kinh tế (nông, lâm và thủy sản; xây dựng, bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tôt, xe máy và xe có động cơ khác; vận tải kho bãi; dịch vụ lưu trú và ăn uống; thông tin và truyền thông) và cho 3 loại hình sở hữu của doanh nghiệp.
Đối tượng điều tra bao gồm 10.120 doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu, trong đó có 319 doanh nghiệp nhà nước (chiếm 9,5% trong tổng số doanh nghiệp Nhà nước); 9.048 doanh nghiệp ngoài nhà nước (chiếm 3% trong tổng số doanh nghiệp ngoài Nhà nước) và 753 doanh nghiệp có vốn FDI (chiếm 9,5% trong tổng số doanh nghiệp FDI). Tuy nhiên, tính đến 29.4.2012, cơ quan điều tra chỉ mới thu được 8.373 phiếu.
Sau gần một tháng triển khai, tính đến 29.4.2012, cơ quan điều tra đã thu được 8.373 phiếu gồm 319 doanh nghiệp nhà nước, 7.343 doanh nghiệp ngoài nhà nước và 711 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Kết quả của 8.373 doanh nghiệp cho thấy, sau một năm và 3 tháng vừa qua, số doanh nghiệp thực tế còn hoạt động chiếm 91,6%; số doanh nghiệp phá sản, giải thể và doanh nghiệp ngừng sản xuất kinh doanh, đang hoàn thành thủ tục phá sản, giải thể chiếm 8,4%.
Trong ba loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp ngoài nhà nước phá sản, giải thể chiếm tỷ lệ cao nhất với 9,2%; tiếp đến là khu vực doanh nghiệp nhà nước với 2,7% và thấp nhất là khu vực doanh nghiệp có vốn FDI với 2,6%.
Tính theo địa phương, đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tỷ lệ doanh nghiệp phá sản, giải thể cao nhất cả nước với 13,6%; tiếp đến là khu vực Tây Nguyên với 9,9%; Đông Nam Bộ 8,8%; Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 8,2%; trung du và miền núi phía Bắc 7,2% và thấp nhất là vùng đồng bằng sông Hồng 6%.
Trong tổng số 706 doanh nghiệp (8,4%) phá sản, giải thể thuộc diện điều tra có đến 69,4% doanh nghiệp phản ánh nguyên nhân phá sản, giải thể là do sản xuất kinhh doanh thu lỗ; 28,4% doanh nghiệp thiếu vốn để sản xuất kinhh doanh; 15,1% doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm; 11,7% doanh nghiệp khó khăn về địa điểm sản xuất kinhh doanh; 4,4% doanh nghiệp phải đóng cửa để thành lập doanh nghiệp mới, chuyển đổi ngành nghề sản xuất và 4,7% doanh nghiệp đóng cửa để sáp nhập với doanh nghiệp khác.
Trong số các doanh nghiệp bị phá sản, giải thể có đến 89,7% doanh nghiệp phản ánh họ sẽ không tiếp tục thành lập doanh nghiệp mới; 10,3% doanh nghiệp dự kiến sẽ tiếp tục thành lập doanh nghiệp mới.
Trong số doanh nghiệp phá sản, giải thể sẽ thành lập mới thì có 35,5% trả lời sẽ thành lập mới ngay trong năm 2012; 25,8% sẽ thành lập mới trong năm 2013; 16,2% sẽ thành lập mới trong năm 2014 và 22,5% sẽ thành lập mới sau năm 2014.
Thông tin về cuộc điều tra, tổng cục Thống kê cho hay, cuộc điều tra được thực hiện ngẫu nhiên, phân bổ đều theo quy mô lao động, đại diện cho toàn quốc, cho các ngành kinh tế (nông, lâm và thủy sản; xây dựng, bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tôt, xe máy và xe có động cơ khác; vận tải kho bãi; dịch vụ lưu trú và ăn uống; thông tin và truyền thông) và cho 3 loại hình sở hữu của doanh nghiệp.
Đối tượng điều tra bao gồm 10.120 doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu, trong đó có 319 doanh nghiệp nhà nước (chiếm 9,5% trong tổng số doanh nghiệp Nhà nước); 9.048 doanh nghiệp ngoài nhà nước (chiếm 3% trong tổng số doanh nghiệp ngoài Nhà nước) và 753 doanh nghiệp có vốn FDI (chiếm 9,5% trong tổng số doanh nghiệp FDI). Tuy nhiên, tính đến 29.4.2012, cơ quan điều tra chỉ mới thu được 8.373 phiếu.
Theo SGTT
Tags:
Doanh nghiệp
,
Tin nổi bật